Trong đó, Mỹ vẫn là thị trường chính nhập khẩu (NK) cá ngừ từ Việt Nam, chiếm tới 46% tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam, với tổng giá trị XK cá ngừ sang thị trường này 10 tháng đầu năm đạt 144,705 triệu USD.
Tiếp đến là thị trường EU, trong đó Đức, Italia và Bỉ là 3 thị trường NK nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam. Nếu những tháng trước đây, Đức là thị trường lớn nhất trong khối NK cá ngừ của Việt Nam nhưng sang tháng 10/2011, Italia lại vượt lên với giá trị NK đạt 2,918 triệu USD, tăng tới 258,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
XK cá ngừ sang thị trường Nhật Bản cũng có xu hướng tăng lên về cuối năm. Từ đầu năm tới nay, tốc độ tăng trưởng giá trị XK cá ngừ sang thị trường Nhật đạt cao nhất, lên tới 82,3%, tương đương 36,645 triệu USD.
Ngoài các thị trường chính nói trên, Thụy Sỹ cũng đang nổi lên là thị trường nhiều tiềm năng với mức tăng trưởng cao chỉ sau Nhật Bản trong thời gian gần đây. Trong 10 tháng đầu năm 2011, Thụy Sỹ đã NK cá ngừ của Việt Nam với giá trị đạt hơn 3 triệu USD, tăng 52,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngoài sự tăng trưởng về giá trị, trong năm nay ngoài 3 thị trường truyền thống là Mỹ, EU và Nhật Bản, số thị trường NK cá ngừ của Việt Nam (tính tới hết tháng 10/2011) cũng đã tăng đáng kể lên tới 87 thị trường, gần gấp đôi so với đầu năm.
VASEP cho biết, nguyên nhân của sự tăng trưởng chính là do nhu cầu tiêu thụ trên thị trường quốc tế vào dịp cuối năm đang tăng cao. Thêm vào đó, một số nước trên thế giới đang đề xuất cắt giảm hạn ngạch khai thác cá ngừ để bảo vệ nguồn lợi của loài này trong tương lai.
Do đó, theo VASEP, nếu chỉ trông chờ vào các nỗ lực đẩy mạnh hoạt động XK cá ngừ của các địa phương, như việc thành lập Công ty liên doanh với Nhật Bản trong thu mua, chế biến, XK cá ngừ của tỉnh Phú Yên thì chưa đủ. Một trong những giải pháp về lâu dài là Nhà nước cần phải ban hành chính sách tổng thể nhằm tạo ra mối liên kết hợp tác chặt chẽ giữa ngư dân và DN chế biến XK cá ngừ.