>> Khởi tố vụ án hình sự tại Sabeco
Xây dựng giá bán theo quy định của Bộ tài chính
Từ đầu năm 2005, nguyên tắc xác định giá tài sản, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân lập phương án giá tài sản, hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá và xây dựng phương án để hiệp thương giá được áp dụng theo Quy chế tính giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ (Ban hành kèm theo Quyết định số 06/2005/QĐ-BTC ngày 18-01-2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Theo đó:
Quy chế, áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ độc quyền và liên kết độc quyền về giá (Điều 2, Quy chế);
Xác định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ, được căn cứ “giá thị trường trong nước, khu vực, thế giới và khả năng cạnh tranh của tài sản, hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm tính giá” (khoản 3, Điều 2, Quy chế);
Sử dụng phương pháp so sánh để xác định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ (Phương pháp so sánh là phương pháp xác định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ thông qua việc tiến hành phân tích mức giá mua hoặc giá bán phổ biến của tài sản, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới - Điều 4, Quy chế);
Tài sản, hàng hóa tương tự với tài sản, hàng hóa cần tính giá là tài sản, hàng hóa có các đặc trưng cơ bản giống nhau, bao gồm: Được làm từ các nguyên liệu, vật liệu tương đương, có cùng phương pháp chế tạo; Có cùng chức năng, mục đích sử dụng; Chất lượng tương đương nhau; Có thể hoán đổi trong giao dịch thương mại (người mua chấp nhận thay thế tài sản, hàng hóa này cho tài sản, hàng hóa kia) -(Khoản 2, Điều 4, Quy chế),
Khi áp dụng phương pháp so sánh phải căn cứ vào: a) Giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ đã có trên thị trường (trong nước, khu vực và thế giới); b) Thông số kinh tế, kĩ thuật chủ yếu của tài sản, hàng hoá, dịch vụ; c) Điều kiện thương mại trong kinh doanh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thế giới (Khoản 3, Điều 4, Quy chế);
Và, tại Khoản 2, Điều 9, Quy chế quy định: “Giá bán đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm: Giá vốn nhập khẩu cộng (+) chi phí bán hàng cộng (+) lợi nhuận dự kiến cộng (+) thuế giá trị gia tăng (nếu có). a) Giá vốn nhập khẩu xác định theo công thức sau:
|
Giá vốn
nhập khẩu |
= |
Giá mua
tại cửa khẩu |
+ |
Thuế nhập khẩu
(nếu có) |
+ |
Thuế tiêu
thụ đặc biệt (nếu có) |
+ |
Các khoản chi bằng tiền khác
theo quy định |
Tại thời điểm năm 2005, trong nước chỉ có Công ty Đường Man sản xuất malt (nguyên liệu chủ yếu để làm bia). Còn trước đó, malt được nhập khẩu 100% từ nước ngoài. Năm 2005, Sabeco đã kí hợp đồng số 18/2005/DMC-BSG ngày 28/3/2005 mua 5.800 tấn malt với giá 418.66 USD/tấn (chưa có thuế VAT) với Công ty Đường Man. Sau khi phát hiện giá mua malt của Công ty Đường Man cao hơn giá mua malt của các nhà nhập khẩu(401.03 USD/tấn), ngày 06/09/2005 Sabeco đã kí phụ kiện PK01 điều chỉnh giá của hợp đồng trên từ 418.66 USD/tấn xuống còn 393.19 USD/tấn(thấp hơn giá Sabeco nhập khẩu của các nhà cung cấp nước ngoài). Kể từ đó, Sabeco đã áp dụng phương pháp so sánh này để xây dựng giá mua malt cho malt sản xuất tại Việt Nam theo giá nhập khẩu = giá CIF+ 5% thuế nhập khẩu +chi phí khác theo phương pháp so sánh theo Quyết định số 06/2005/QĐ-BTC của Bộ Tài chính là có cơ sở pháp lí.


Đơn tố cáo.
Chưa đủ cơ sở kết luận cố ý làm trái?
Ngày 22-12-2011, Cơ quan Cảnh sát Điều tra (C48) - Bộ Công an công bố Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn” về việc mua Malt của SABECO với Công ty Đường Man từ năm 2005 – 2010. Nhưng, căn cứ hồ sơ mua bán đối chiếu với quy định của Quy chế trên đây, cho thấy:
Thứ nhất, năm 2005, 2006 SABECO áp dụng phương pháp so sánh với giá nhập khẩu để làm cơ sở tính toán giá mua với Công ty Đường Man theo đó giá malt mua của Đường Man = giá malt nhập khẩu + 5% thuế nhập khẩu + cộng chi phí giao nhận (chi phí tại cảng, hải quan, vận chuyển, bốc dỡ...).
Thứ hai, đây là hợp đồng mua bán, không phải là hợp đồng ủy thác nhập khẩu nên không phát sinh thuế nhập khẩu; và, thực tế không có bất kì tài liệu, chứng từ, hồ sơ nào liên quan đến việc SABECO thanh toán 5% thuế nhập khẩu trong hồ sơ thanh toán cho Đường Man;
Thứ ba, hợp đồng mua nguyên liệu của Đường Man do Ban Mua hàng của SABECO có ghi rõ xuất xứ là hàng sản xuất trong nước, do đó không phát sinh thuế nhập khẩu trong quá trình thanh toán;
Thứ tư, SABECO sử dụng phương pháp so sánh để xác định giá mua Malt có nguồn gốc trong nước do Malt trong nước được sản xuất độc quyền nên không thể chào giá cạnh tranh. Cụ thể: mặt hàng Malt có cùng tiêu chuẩn chất lượng, có thể hoán đổi cho nhau, SABECO đã sử dụng đơn giá so sánh của hàng nhập khẩu cùng loại để xác định đơn giá mua. Khi chi tiết đơn giá mua trong hợp đồng, SABECO đã giải thích chi tiết cấu thành giá. Tuy nhiên, việc giải thích chi tiết giá hợp đồng (giá CIF, thuế NK, vận chuyển, bốc xếp...) đã gây ra sự hiểu nhầm là hàng mua trong nước, mà lại có ghi thuế nhập khẩu.
Thứ năm, lấy ví dụ một hợp đồng năm 2008, đơn giá bán 6.000 tấn Malt nhập khẩu được Công ty Thanh Tùng áp dụng công thức giá bán hàng nhập khẩu để chào bán cho SABECO là phù hợp. Đối với 4.000 tấn malt sản xuất trong nước cùng tiêu chuẩn, có thể hoán đổi cho nhau, Thanh Tùng đã sử dụng phương pháp so sánh xác định giá bán Malt có nguồn gốc trong nước, cụ thể là bán theo giá hàng nhập khẩu. Là đơn vị thương mại, Thanh Tùng có quyền đề xuất giá bán như nhau cho hàng hóa cùng tiêu chuẩn chất lượng, không phân biệt xuất xứ.Việc phân tích thành phần giá bán chi tiết gồm Giá CIF, và chi phí khác (thuế NK, vận chuyển, bốc xếp ...) nhằm giúp người mua đánh giá, nhận định sự phù hợp về giá mua bán khi thương thảo và quyết định giá mua.Giá thương thảo là giá thỏa thuận, hợp lí giữa hai bên trong tình hình thị trường khó khăn, giá này là giá mua trọn gói.
Thứ sáu, việc thực hiện các hợp đồng mua bán giữa Công ty Đường Man, công ty Thanh Tùng với Sabeco đã được Cục Tài chính Doanh nghiệp - Bộ Tài chính thẩm định và có Kết luận giám định tư pháp ngày 30-11-2011 trả lời Quyết định trưng cầu giám định số 01/C48(P3) của Cơ quan cảnh sát điều tra C48 ngày 04/08/2011 nêu rõ: “chưa đủ cơ sở kết luận việc SABECO thương thảo, kí 05 hợp đồng mua malt sản xuất trong nước với bên bán (Công ty Đường Man, Công ty Thanh Tùng) và chấp nhận thanh toán cho bên bán theo giá được xác định trong hợp đồng bằng cách so sánh với giá bán Mal nhập khẩu (giá so sánh) trong đó thuế nhập khẩu là yếu tố cấu thành giá so sánh là trái với quy định của Pháp lệnh Giá, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”.
Như vậy, đã có cơ sở để cấp trên kết luận việc mua Malt của Sabeco với Công ty Đường Man, Công ty Thanh Tùng từ năm 2005 – 2010 là đúng quy định Pháp luật.